Friday, December 2, 2016

Giải thích một số thuật ngữ chuyên ngành ngân hàng

1.Giải ngân

Khái niệm Giải Ngân

Giải ngân là nhận được tiền khi hoàn thành từng bước trong kế hoạch hoặc dự án , là giải quyết tiền bạc theo từng bước công việc , giải ngân chỉ được thực hiện khi hoàn thành xong công việc của mỗi bước trước rồi sau đó mới được nhận tiền.

Kết quả hình ảnh cho giải ngân là gìMột số Ví dụ về giải ngân.

Bạn có quyết định cho một người khác mượn một số tiền lớn với lãi suất rất thấp, hầu như lãi suấ́t là cho có lệ, với điều kiện là người mượn phải cam kết sử dụng số tiền được vay vào một mục đích cụ thể có lợi ích thiết thực cho nhiều người, như đầu tư xây dựng một khu chung cư chẳng hạn , và bạn giao số tiền cần thiết cho kế hoạch đó cho một đại diện, người hay tổ chức đại diện này sẽ giữ số tiền đó, ́do đó bạn yêu cầu người vay mượn phải đưa ra một kế hoạch chi tiết cụ thể, và trong kế hoạch đó, người thực vay phải cụ thể từng bước thực hiện công việc , mỗi bước như vậy cần bao nhiêu tiền trong tổng số tiền được vay, và tổ chức hay người đại diện của bạn sẽ căn cứ vào kế hoạch đó để giao số tiền cần cho từng bước thực hiện, cứ thế, khi người vay thực hiện xong bước này, mới tiếp tục bước tiếp theo, không chồng tréo lẫn nhau , và số tiền được cho vay sẽ được giao cho họ cho kịp tiến độ công việc, cho tới khi hoàn thành hoàn toàn kế hoạch thì đồng thời số tiền được vay mượn cũng vừa hết. Như vậy tiền cần cho kế hoạch thì có sẵn, nhưng để lấy được tiền thì cần phải hoàn thành từng bước kế hoạch, đó gọi là giải ngân, giải quyết tiền bạc theo từng chặng công việc, chỉ khi hoàn thành chặng trước mới được nhận tiền cho chặng sau.


2.Đáo hạn

Đáo hạn ngân hàng được hiểu: Khi đến hạn vốn gốc khách hàng phải hoàn trả vốn gốc đúng theo hợp đồng tín dụng ( kỳ hạn vay, phân kỳ, số tiền gốc theo hợp đồng tín dụng ).

Kết quả hình ảnh cho đáo hạn ngân hàngTrong thời kỳ lạm phát như ở Việt Nam, các cá nhân hay doanh nghiệp thường chọn phương pháp huy động vốn bằng cách vay vốn thế chấp tại ngân hàng. Đây là một cách kinh doanh khôn ngoan. Sẽ không có vấn đề gì nếu như đến kì đáo hạn ngân hàng, khách hàng đã đầu tư hết nguồn vốn vào công việc kinh doanh, dẫn đến việc gặp khó khăn trong công tác hoàn tất thủ tục đáo hạn ngân hàng.
Kết quả hình ảnh cho đáo hạn ngân hàng
Từ nhu cầu cần được giải chấp của Người đi vay và của cả phía ngân hàng muốn khách hàng phải thanh lý nợ gốc đúng hạn, ta đã có khái niệm về "đáo hạn ngân hàng"
Việc đảo nợ ngân hàng tại Việt Nam luôn xảy ra rất thường xuyên đến mức thông thường và được xem như là việc đáo hạn ( dùng từ "đáo hạn" này nhiều rồi thành quen), do đó hầu hết mọi người khi đảo nợ thường xem như là mình đang "đáo hạn". Và việc đảo nợ ngân hàng là điều không được cho phép của Ngân hàng nhà nước vì hồ sơ tín dụng khách hàng có vấn đề : (Phương án kinh doanh và phương án trả nợ không đúng hoặc có sai lệch gì so với thực tế nên không trả nợ đúng hạn được). Cần phải báo cáo cho ngân hàng nhà nước.
Nguồn:http://www.taichinhpro.vn/ (Nhóm tư vấn Taichinhpro.vn)

3.Giải chấp

Từ những khái niệm và những quy định trong ngành ngân hàng, giải chấp ngân hàng có thể được hiểu như sau : Là việc giải trừ thế chấp đối với tài sản đang ở ngân hàng.
Một tài sản được giải chấp khi nó đã chấm dứt nghĩa vụ đảm bảo cho khoản nợ. (Đã thanh lý hợp đồng vay). Vì vậy việc giải chấp ngân hàng là điều bắt buộc đối với người vay khi đến hạn trả nợ gốc tại ngân hàng. Khoản vay được thẩm định và đánh giá đúng phải được giải chấp (thanh lý đúng hạn). Việc thanh lý không đúng thời hạn sẽ bị chuyển thành nợ quá hạn và ảnh hưởng đến uy tín về tín dụng của người vay đồng thời ảnh hưởng đến uy tín về năng lực cho vay của cán bộ tín dụng.

Hầu hết các khoản vay có tài sản bảo đảm đều không đúng khả năng tài chính trong phương án vay vốn ngân hàng, nhất là các khoản vay ngắn hạn. Không đúng khả năng tài chính trong phương án vay thì khó trả nợ gốc đúng hạn, giải chấp, thanh lý đúng hạn.

Hậu quả của việc không thanh lý đúng hạn:
Người vay:
Ghi nhận thông tin CIC ( Credit Information Center - Trung tâm thông tin tín dụng ) về khoản nợ quá hạn của mình, Kiểu lý lịch tín dụng "bị xấu" ảnh hưởng các khoản vay sau này...

Bị phạt quá hạn và liên tục được ngân hàng gọi điện, gửi thông báo, đến nhà...
Ngân hàng cho vay:
Hồ sơ vay sẽ được mổ xẻ cho ra lỗi tại đâu mà nên nỗi, làm báo cáo, giải trình, đánh giá lại...Ngân hàng nhà nước buộc trích dự phòng cho khoản vay, làm giảm thu nhập của đơn vị cho vay. Và nếu tỷ lệ này quá cao sẽ được ngân hàng nhà nước kiểm soát đặc biệt
Từ những điều trên ta có khái niệm về "đáo hạn" " đảo nợ". Và từ những khái niệm này trong các quy định của ngân hàng nhà nước, ngân hàng thương mại cũng có đề cập đến , nhưng "tranh tối tranh sáng" không được giải thích cặn kẽ, thấu đáo.

4.Đảo nợ ngân hàng 

Đảo nợ ngân hàng - Và những khái niệm khác nhau về đảo nợ


Đảo nợ là gì ? Những khái niệm dưới đây phần nào giúp những ai chưa hiểu được thế nào là '' đảo nợ ngân hàng '' , thì chí ít cũng hình dung ra được '' đảo nợ ''  là tốt hay xấu.

Khái niệm 01
Có rất nhiều khái niệm, định nghĩa, cách hiểu về cụm từ "đảo nợ ngân hàng" nhưng hiểu một cách đơn giản, đảo nợ là thay món nợ cũ bằng một món nợ mới. Bản thân cụm từ này không có lỗi, nhưng nhiều người biến tấu vận dụng nó theo nghĩa tiêu cực nên Ngân Hàng Nhà Nước liệt vào dạng vi phạm và bị phạt hành chính được nêu trong nghị định 202 .

Xuất phát từ quan điểm trên, chúng ta đi vào phân tích ắt sẽ có cái nhìn thấu đáo hơn:
 01Một người vay nợ do làm ăn không hiệu quả dẫn đến mất khả năng trả nợ khi đáo hạn. Họ sẽ làm gì để trả có thể trả nợ? Ngân hàng bị ảnh hưởng gì? Trước tiên, ngân hàng sẽ bị thiệt do không thu hồi nợ đúng thời hạn, nợ xấu tiềm năng gia tăng dẫn đến trích dự phòng tăng kéo theo chất lượng tín dụng không tốt tiếp theo vốn khả dụng giảm tiếp theo nữa cho vay giảm và cuối cùng lợi nhuận bị ảnh hưởng.
Do đó để tránh tình trạng này, Ngân Hàng (chủ yếu là cán bộ tín dụng) kết hợp với khách hàng "hô biến" món nợ xấu (cũ) thành món nợ mới (tốt như bình  thường) bằng cách làm lại hợp đồng mới tái vay cho khách hàng (không cần phải trả nợ - cách này bị ngân hàng cấm) hoặc cách khác khách hàng có thể vay ở ngoài để trả nợ trước sau đó Ngân hàng cho khách hàng vay lại, tức là " vay cũ " thành " vay mới ". Nói chung, về nguyên tắc cách này không tốt và cực kỳ nguy hiểm, bởi khách hàng làm ăn không hiệu quả mà "tái vay" thì lại càng nguy hiểm.
02Khách hàng đang làm ăn tốt, khi món nợ đến kỳ đáo hạn ngân hàng nhưng khách hàng chưa thu tiền về kịp, khi đó họ sẽ làm gì để trả nợ cho Ngân Hàng? Khách hàng sẽ vay món tiền trước, sau đó trả nợ ngân hàng và xin vay lại vì đang làm ăn tốt. Sau đó tiền về họ trả lại ngân hàng và tái kinh doanh. điều này ko xấu nhưng rất hiếm khi xảy ra.

Khái niệm 02

Có thể nói đảo nợ được định nghĩa một cách đơn giản, đó là cho giải ngân một hợp đồng mới để trả nợ cho hợp đồng cũ (cụm từ đảo nợ ở đây được hiểu theo đúng nghĩa đen). Hiện tượng đảo nợ hoàn toàn bị nghiêm cấm tại các tổ chức tín dụng theo quy chế cho vay vốn của ngân hàng nhà nước, và chỉ Chính Phủ mới được phép thực hiện nghiệp vụ này.

Có thể lấy một ví dụ đơn giản về đảo nợ như sau: Một khách hàng cá nhân vay một khoản vốn ngắn hạn 01 năm với mục đích kinh doanh. Tuy nhiên, đến thời hạn trả nợ, nguồn vốn vay ngân hàng chưa được thu hồi. Khoản vay có nguy cơ bị chuyển quá hạn. Ngân hàng nhận thấy đây là khách hàng tốt, rủi ro xảy ra là bất khả kháng chứ ko có dấu hiệu cố tình không trả nợ. Ngân hàng dùng nghiệp vụ đảo nợ:

Một hợp đồng tín dụng mới được thiết lập với phương án vay hoàn toàn mới, số tiền vay mới bằng số tiền vay cũ. Thực chất tiền không ra khỏi kho của Ngân hàng, chỉ là sử dụng tiền của món vay mới để trả nợ cho món vay cũ. Chứng từ kế toán phải được sửa lại sao cho tiền phải vào để tất toán món vay cũ trước rồi mới giải ngân cho món mới (nếu ko thanh tra sẽ phát hiện ra đây là đảo nợ, các trường hợp bị phát hiện sẽ bị xử lý rất nghiêm).

Khái niệm 03
Thứ nhất. Hiện chưa có bất cứ định nghĩa, quy định cụ thể nào về vấn đề "đảo nợ" ngoại trừ một số văn bản có đề cập đến đảo nợ tuy nhiên cũng không nói rõ đảo nợ là gì, có nghiêm cấm hay không.
Thứ 2. Theo cách hiểu thông thường, đảo nợ là cho vay 1 khoản vay mới để trả nợ khoản vay cũ đến hạn, tức là "hô biến" 1 khoản vay tới hạn, có khả năng quá hạn thành một khoảng vay mới hoàn toàn sạch sẽ. Tuy nhiên cần biết việc trả dứt một khoản nợ và tiếp tục vay một khoản khác được xem như bình thường và không phải là đảo nợ.
Thông thường, khi đến hạn mà khách hàng không trả được nợ thì ngân hàng có các cách xử lý: (1) chuyển nợ qua hạn (2) Gian hạn nợ - cách này thường dùng; xử lý như trên tuy phản ánh trung thực chất lượng của khoản vay nhưng ảnh hưởng đến phân nhóm nợ của ngân hàng và làm tăng chi phí dự phòng. (3) Dùng kỹ thuật: mặc dù không có quy định cụ thể nhưng các ngân hàng không bao giờ dám "đảo nợ" theo cách mô tả ở trên (ngoại trừ trường hợp mua bán nợ, tái cấu trúc món nợ có quy định riêng), do đó một số chi nhánh của các ngân hàng chọn cách thức sau để đảm bảo "hình ảnh đẹp" của dư nợ vay, đó là họ yêu cầu khách hàng "tìm cách" trả dứt món nợ tới hạn, sau đó lại cho vay món mới theo kế hoach kinh doanh mới mà thực chất là tiếp tục món nợ cũ.
"Tìm cách" đảo nợ như thế nào? câu hỏi được trả lời trên mục rao vặt của rất nhiều tờ báo: "nhận đáo hạn, giải chấp ngân hàng, thủ tục nhanh, uy tín, phí thấp. Các dịch vụ loại này hiện khá phát đạt, tuy nhiên kinh nghiệm ở một số bang của Mỹ cho thấy các dịch vụ loại này góp phần tạo nên sự sụp đổ của hệ thống tín dụng nên đã bị cấm, dù vậy một số bang khác vấn cho phép hoạt động.
Thứ 3. Câu hỏi đặt ra vậy ở nước ta có "đảo nợ" không? Xin thưa theo cách hiểu đề cập ở mục thứ 2 thì không. Nhưng hoạt động tương tự (như đề cập ở phần cuối mục thứ 2) thì cũng không....biết có bao nhiêu mà nói...

Và đánh giá của người trong cuộc...
Đối với ngân hàng Nhà Nước, việc đảo nợ là nghiêm cấm, tuy nhiên đối với các Ngân hàng thương mại thì việc đảo nợ là đương nhiên vừa đảm bảo tránh trích lập dự phòng vừa hỗ trợ được đối với những khách hàng tốt. Tuy nhiên việc đảo nợ thế nào cho hợp lý thì lại là một vấn đề đối với từng cán bộ tín dụng, vì không ở đâu dám công khai dạy việc này, và để khi thanh tra nhà nước có sờ vào biết và cũng cho qua, việc đảo nợ phải đảm bảo:
- Thời gian trả tiền vào và thời gian giải ngân là khác nhau: Cụ thể là phải khác ngày vì cuối ngày in sao kê 2 món có cùng số tiền, cùng KH và có cả 2 nghiệp vụ phát sinh có nghĩa là đảo nợ khống.
- Với khái niệm 02 hoàn toàn không ổn: Trường hợp 1 đã nêu ở trên, trường hợp sau nếu xảy ra cùng với việc tiền không ra khỏi ngân hàng đồng nghĩa với việc chênh lệch giữa báo cáo quỹ và quỹ thực tế - việc này đồng chí trưởng phòng dịch vụ khách hàng không bao giờ chấp nhận, và việc sửa chứng từ điện tử là điều không tưởng.
- Trường hợp dùng tên người khác làm món vay mới là chấp nhận được, tuy nhiện để hoàn thiện được một bộ hồ sơ là tương đối mất thời gian.
- Ta có thể dùng nguồn tiền khác ngoài kinh doanh của khách hàng để đảo nợ, việc này cán bộ tín dụng tinh ý sẽ biết là gì và nguồn rất nhiều. Tuy nhiên để làm được, cán bộ tín dụng và khách hàng phải chủ động tránh để nước đến chân mới nhảy.
Tóm lại: Để đảo nợ ngân hàng thành công phải hội tụ đủ yếu tố: Khác thời gian và thực sự phải có nguồn tiền nộp vào đúng hạn, đảo nợ ngân hàng khống trách nhiệm đầu tiên sẽ thuộc về lãnh đạo và khi đó ngân hàng nhà nước vừa phạt nặng vừa cười cho vì trình độ yếu kém.


5.Nợ xấu 
Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại từ  nhóm 3 (dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (khả năng mất vốn cao).
Cụ thể nhóm 3 trở lên, gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, đồng thời  quy định các ngân hàng thương mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.
Như vậy nợ xấu được xác định theo 2 yếu tố:  đã quá hạn trên 90 ngày và  khả năng trả nợ đáng lo ngại. Đây được coi là định nghĩa của chung trong giới tín dụng chuyên ngành.
Còn theo định nghĩa nợ xấu của các tổ chức tín dụng thế giới thì  : một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.
Và khi khách hàng bị nợ xấu từ nhóm 3 trở lên sẽ rất khó được ngân hàng duyệt vay lại ít nhất là 5 năm.
Như vậy nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.
Cách tính nợ xấu
ví dụ :
+ Một anh đi đẩy xe bắp. Mỗi ngày, anh đẩy xe ra bán , dự trù bán 100 trái / 8 ngàn/, ngày nào bán được, hết  100 trái, thu về 800 ngàn , trừ chi phí, lãi 400 ngàn. Ngày nào bán được 20trái, thu vô 160 ngàn, bắp hư , đổ đi…sau khi trừ chi phí , lỗ . Đó là rủi ro trong kinh doanh.
Với ngân hàng , hôm nay họ cho 100 khách hàng vay tiền , mỗi người 5 tỷ là 500 tỷ trong thời hạn 12 tháng. Khi tới ngày tính lợi nhuận trả cổ tức , họ tính luôn tiền lãi thu được tới thời điểm đó và tiền vốn cho vay. Từ đó mới phân chia lợi nhuận cho cổ đông, thưởng Ban Quản Trị ngân hàng. (Tổng giám đốc Techcombank, Nguyễn Đức Vinh vừa từ chức tháng 5.2012 với lương và thưởng 2 triệu usd/năm).
Và họ không tính rủi ro kinh doanh ,  khi kinh tế khủng hoảng, khoản vay 5 tỷ  có thể mất trắng , đó là nợ xấu, đó là phải để một phần lãi ngày hôm nay vào quỹ dự phòng.
 Cách tính nợ xấu của ngân hàng quốc tế so với VN :
Một khoản vay quốc tế 1 tỷ, khi tháng đầu trả 50 triệu (24 kỳ, mỗi kỳ 50 triệu), tháng thứ  2, không trả được, khi trể 3 tháng là toàn số nợ đọng là 950 triệu là nợ xấu.
Còn tại ngân hàng  VN …càng làm thấp nợ xấu thì càng được chia lời nhanh… Tháng thứ 2 , 3 ,4 không trả được, thì nợ xấu chỉ là 3 * 50 triệu= 150 triệu . Số 150 triệu này của 100 cty còn phân loại : cty đóng cửa và hấp hối là loại 4, cty không trả nổi bây giờ nhưng với ý kiến chủ quan của Ngân hàng cho vay thì 12 tháng sau trả được v.v…?
Trong khi đó, ngân hàng nước ngoài thì nợ xấu sẽ là 950 triệu * 100 cty= 95 tỷ, không phân loại ! và NH phải trích dự phòng từ lợi nhuận hay ngay cả lỗ cũng phải trích 95 tỷ. Khi nào các công ty này bắt đầu trả được nợ thì họ mới lấy ra khỏi danh sách nợ xấu mà credit (giảm) lại cho dự phòng.
Chính vì vậy dự phòng của quốc tế không tăng đột xuất theo tháng ngày trong thời hạn vay, của VN thì cứ thêm mỗi tháng mỗi nhiều nhưng bất cứ lúc nào, không ai biết là bao nhiêu vì tháng sau, sau nữa sẽ thêm nữa.
Nguồn: Canvaytien.net
6.Kiều hối
Kết quả hình ảnh cho giải ngân là gì
Kiều hối là tiền bạc được di chuyển từ những người đang trú ngụ hay là lao động ở nước ngoài đến thân nhân của họ tại quê hương.
Tại một số nước đang phát triển, số tiền được đưa vào từ kiều hối có thể đứng hàng cao thứ nhì trong các nguồn thu nhập, cao hơn cả viện trợ quốc tế. Số kiều hối hàng năm trên thế giới được ước tính từ 250 tỷ USD của Ngân hàng Thế giới và các Ngân hàng Trung ương đến 401 tỷ của IFAD.
Một nước có số lượng kiều hối cao sẽ thúc đẩy những hoạt động đầu tư khác trong nhiều lĩnh vực như: giáo dục, chăm sóc sức khỏe, các mô hình kinh doanh loại nhỏ...
Nguồn:Sưu tầm
7.ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức (hay , viết tắt của cụm từ Official Development Assistance), là một hình thức đầu tư nước ngoài. Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài. Đôi khi còn gọi là viện trợ. Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư. Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay.
Ưu điểm của ODA
Lãi suất thấp (dưới 3%, trung bình từ 1-2%/năm)
Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn 8-10 năm)
Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA.
Bất lợi khi nhận ODA
Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh – quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị… Vì vậy, họ đều có chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế (những mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế – chính trị – xã hội trong nước, khu vực và trên thế giới).Ví dụ:
Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ. Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao
Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo. Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thế giới).
Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ. Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất.
Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia.
Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên.
Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp… có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần.
8.FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
Những nhân tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài:
1.Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước
Helpman và SibertRichard S. Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên (số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có được do dùng thêm một đơn vị của yếu tố sản xuất)của vốn giữa các nước. Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn. Còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn. Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Vì chi phí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn. Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là tất cả những hoạt động nào có năng suất cận biên cao mới được các Doanh nghiệp đầu tư sản xuất mà cũng có những hoạt động quan trọng, là sống còn của Doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất cho dù hoạt động đó cho năng suất cận biên thấp.
2.Chu kỳ sản phẩm
Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kỳ sống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoan sản phẩm mới; giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa. Akamatsu Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât của nước ngoài(giai đoạn sản phẩm chín muồi). Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện (giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa). Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI.
Raymond Vernon (1966) lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất. Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn.
3.Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia
Stephen H. Hymes (1960, công bố năm 1976), John H. Dunning (1981), Rugman A. A. (1987) và một số người khác cho rằng các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao độngđất đai,chính trị) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên. Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn và công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng... ta dễ dàng nhận ra lợi ích của việc này!
4.Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương. Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương. Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó. Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang. Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu.
5.Khai thác chuyên gia và công nghệ
Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn. Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa. Nhật Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ. Ví dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ. Các công ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy. Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng có chính sách tương tự. Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ. Việc công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM. Hay việc TCL (Trung Quốc) trong sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL-Thompson Electronics, việc National Offshore Oil Corporation (Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu lửa mua lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như vậy.
6.Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên
Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú. Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này. FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự.
Lợi ích của thu hút FDI

1.Bổ sung cho nguồn vốn trong nước


Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI.

2.Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý

Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng "chính sách thắt lưng buộc bụng". Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lýthì không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.

3.Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu

Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.

4.Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công

Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

5.Nguồn thu ngân sách lớn

Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng. Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006.
Các hình thức FDI
Phân theo bản chất đầu tư

    Đầu tư phương tiện hoạt động

    Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào.

    Mua lại và sáp nhập

    Mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào.

    Phân theo tính chất dòng vốn

    Vốn chứng khoán

    Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty.

    Vốn tái đầu tư

    Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.

    Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ

    Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau.

    Phân theo động cơ của nhà đầu tư

    Vốn tìm kiếm tài nguyên

    Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào. Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng). Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh.

    Vốn tìm kiếm hiệu quả

    Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi,điều kiện pháp lí v.v...

    Vốn tìm kiếm thị trường

    Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh giành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu.
9.Tính thanh khoản (tính lỏng)
Tính thanh khoản (hay còn gọi là tính lỏng) của thị trường là một thuật ngữ kinh doanh dùng để chỉ khả năng có thể nhanh chóng mua hoặc bán hàng hoá trên thị trường mà không bị ảnh hưởng của yếu tố giá cả. Và khoảng thời gian để mua và bán háng hoá thường là ngắn hạn.

Tính chất cơ bản của một thị trường có tính thanh khoản cao là ở đó luôn sẵn có và nhiều người mua và bán trong cùng một thời gian. Một thị trường có tính thanh khoản rất cao nếu tại đó có sẵn và có nhiều người mua và bán với khối lượng lớn. Thêm vào đó là các lệnh giao dịch không làm ảnh hưởng nhiều đến giá trong thị trường này.
Trong kế toán, tài sản lưu động được chia làm năm loại và được sắp xếp theo tính thanh khoản từ cao đến thấp như sau: tiền mặt, đầu tư ngắn hạn, khoản phải thu, ứng trước ngắn hạn, và hàng tồn kho.
 Phân loại theo thanh khoản:Tiền mặt có tính thanh khoản cao nhất, luôn luôn dùng được trực tiếp để thanh toán, lưu thông, tích trữ. Còn hàng tồn kho có tính thanh khoản thấp nhất vì phải trải qua giai đoạn phân phối và tiêu thụ chuyển thành khoản phải thu, rồi từ khoản phải thu sau một thời gian mới chuyển thành tiền mặt.
 Nguồn:Sưu tầm

No comments:

Post a Comment